Theo thống kê năm 2006 của Hiệp hội
Tim mạch Mỹ, có đến 73,5 triệu người Mỹ trên 20 tuổi (chiếm 1/3 số người trưởng
thành) bị cao huyết áp. Năm 2009, tại Việt Nam, theo khảo sát của Bộ Y tế đối với
người dân 20 tuổi trở lên ở Hà Nội, Thái Nguyên, Thái Bình và Nghệ An thì tỉ lệ
cao huyết áp là 16,5%, trong đó thành thị chiếm 22,7% và nông thôn chiếm 10,3%.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế
giới (WTO), năm 2000, toàn thế giới có tới 972 triệu người bị cao huyết áp và
con số này được dự đoán đến năm 2015 sẽ vào khoảng 1,56 tỉ người.
Khoảng 95% bệnh nhân cao huyết áp
không rõ nguyên nhân (cao huyết áp tiên phát). Bên cạnh các yếu tố nguy cơ làm
cao huyết áp tiên phát như độ tuổi, di truyền, chủng tộc, điều kiện kinh tế xã
hội, giới (nam thường bị cao huyết áp nhiều hơn nữ) thì các yếu tố nguy cơ của
lối sống như căng thẳng, lười vận động, ăn uống không hợp lý với chế độ ăn quá
nhiều chất béo, ăn mặn, hút thuốc lá, béo phì... là những nguyên nhân gây gia
tăng tỉ lệ bệnh cao huyết áp.
Bên cạnh đó, cao huyết áp cũng đã
và đang trở thành nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch. Đối với người bị
cao huyết áp, nguy cơ đột quỵ (tai biến mạch máu não) tăng gấp 4 lần, nguy cơ bị
nhồi máu cơ tim tăng gấp 2 lần so với người bình thường. Nguy cơ tử vong sẽ
tăng gấp đôi khi chỉ số huyết áp tăng mỗi 20mmHg đối với huyết áp tâm thu và
tăng 10mmHg đối với huyết áp tâm trương. Năm 2008, trên toàn thế giới có khoảng
16,5 triệu người chết vì cao huyết áp.
Các biến chứng thường gặp của cao huyết áp
Biến chứng về mắt
Cao huyết áp làm hư mạch máu võng
mạc, thành động mạch dày và cứng làm hẹp lòng mạch lại. Khi có quá trình xơ cứng
thành mạch thì động mạch sẽ đè bẹp tĩnh mạch và cản trở tuần hoàn làm bệnh nhân
hỏng mắt tiến triển theo các giai đoạn.
Cao huyết áp còn làm xuất huyết
võng mạc, phù đĩa thị giác làm giảm thị lực, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.
Các biến chứng tim mạch
Cao huyết áp lâu ngày làm hư lớp
nội mạc (lớp áo trong cùng) của mạch vành, làm các phân tử cholesterol tỉ trọng
thấp (LDL) dễ dàng đi từ lòng mạch máu vào lớp áo trong động mạch vành, sau đó
làm hình thành mảng xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch vành. Khi động mạch vành bị
hẹp nhiều, bệnh nhân thấy đau ngực, nghẹn trước ngực khi gắng sức, khi vận động
nhiều, leo cầu thang, cơn đau giảm khi bệnh nhân ngừng gắng sức (triệu chứng bệnh
cơ tim thiếu máu cục bộ). Đau trước ngực có thể lan lên cổ, lan ra tay trái và
ra sau lưng. Nếu mảng xơ vữa động mạch bị nứt, vỡ thì trong động mạch vành hình
thành huyết khối, làm tắc động mạch vành và làm bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim.
Khi bị nhồi máu cơ tim, bệnh nhân thấy đau dữ dội trước ngực, khó thở, toát mồ
hôi, có thể đau lan lên cổ, lan ra sau tay trái, ra sau lưng...
Cao huyết áp cũng làm cơ tim phì
đại (cơ tim dày lên)
Bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim do
cao huyết áp sẽ có một vùng cơ tim bị chết, không thể co bóp được, dẫn đến suy
tim. Cao huyết áp lâu ngày làm cơ tim phì đại, nếu không được điều trị cũng sẽ
dẫn đến suy tim.
Các biến chứng về não
Tai biến mạch máu não
Nhũn não: Cao huyết áp làm hẹp mạch máu nuôi não (tương tự mạch
vành), nếu mảng xơ vữa bị nứt, vỡ, làm hình thành cục máu đông, làm tắc mạch
máu não gây chết một vùng não (còn gọi là nhũn não).
Xuất huyết não: Khi huyết áp lên quá cao, mạch máu não không chịu nổi
áp lực cao có thể bị vỡ, lúc đó bệnh nhân bị xuất huyết não, gây liệt nửa người,
liệt hoàn toàn, nặng thì có thể tử vong (triệu chứng của bệnh nhân tùy vùng xuất
huyết lớn hay nhỏ và tùy vị trí vùng xuất huyết).
Thiếu máu não: Cao huyết áp làm hẹp động mạch cảnh, động mạch não,
làm máu bơm lên não không đủ khiến người bệnh thấy chóng mặt, hoa mắt, có khi bất
tỉnh.
Các biến chứng về thận
Cao huyết áp làm hỏng màng lọc của
tế bào thận, làm bệnh nhân tiểu ra protein (bình thường không có), lâu ngày gây
suy thận.
Cao huyết áp còn làm hẹp động mạch
thận, làm thận tiết ra nhiều chất renin, khiến huyết áp tăng cao. Hẹp động mạch
thận lâu ngày cũng gây ra suy thận.
Các biến chứng về mạch ngoại vi
Cao huyết áp làm động mạch chủ
phình to, có thể bóc tách và vỡ thành động mạch chủ dẫn đến chết người.
Cao huyết áp làm hẹp động mạch chậu,
động mạch đùi, động mạch chân. Khi động mạch chi dưới bị hẹp nhiều, bệnh nhân
đi một đoạn đường thì đau chân, phải đứng lại nghỉ (đau cách hồi).
Đại đa số các bệnh nhân cao huyết
áp thường không có các dấu hiệu cảnh báo trước. Quan điểm trước đây thường cho
rằng cao huyết áp là phải có đau đầu, mặt bừng đỏ, béo phì... là hết sức sai lầm.
Nhiều bệnh nhân cao huyết áp hoàn toàn cảm thấy bình thường, do vô tình khám sức
khỏe mới biết bị bệnh. Sự xuất hiện triệu chứng đau đầu đã có thể là biến chứng
nặng nề của người bệnh cao huyết áp do bị tai biến mạch máu não. Do vậy việc kiểm
tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có nguy cơ cao (như lớn tuổi,
béo phì, ít vận động, trong gia đình có người thân bị cao huyết áp...) là hết sức
cần thiết và quan trọng.
Chỉ một số nhỏ (dưới 5%) là cao
huyết áp có căn nguyên (tức là do hậu quả của một số bệnh lý khác như hẹp động
mạch thận, có khối u ở tuyến thượng thận...). Đa số người bệnh cao huyết áp
không có biểu hiện bệnh nên rất nhiều trường hợp cho đến khi bị các biến chứng,
thậm chí tử vong mới biết mình bị cao huyết áp hoặc mới hiểu rõ việc khống chế
tốt hiện tượng cao huyết áp quan trọng như thế nào.
Cao huyết áp nếu không được điều
trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử
vong hoặc để lại di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh,
khiến người bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Để duy trì huyết áp bình thường
Việc thay đổi lối sống đóng một
vai trò quyết định. Ví dụ tập luyện thể dục thể thao mức độ phù hợp với từng cá
nhân, ít nhất 30 phút/ngày và ít nhất 5 lần/tuần; chế độ ăn hợp lý, duy trì cân
nặng trong giới hạn bình thường...
Để làm giảm nguy cơ cao huyết áp
cần cố gắng giảm căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày, giảm căng thẳng tại nơi
làm việc và trong gia đình. Khi đã bị cao huyết áp thì cố gắng tránh ăn mặn,
tránh rượu, bia, thuốc lá, các thực phẩm nhiều mỡ động vật, ăn nhiều rau, trái
cây (ăn nhiều trái cây rất tốt đối với người không bị mắc bệnh đái tháo đường).
Người bệnh phải dùng thuốc đúng,
đầy đủ và liên tục theo chỉ định của bác sĩ, thường xuyên đo huyết áp bằng các loại máy đo huyết áp để theo dõi. Những nghiên cứu cho thấy việc
dùng đúng các thuốc hạ huyết áp không chỉ làm giảm huyết áp như mong muốn mà
còn giúp giảm đáng kể các tổn thương cơ quan đích (biến chứng của cao huyết áp
trên tim, não, thận, mắt, mạch máu...).
(nguồn: tổng hợp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét